Đồng xử lý chất thải trong sản xuất xi măng: Cần cơ chế, chính sách hỗ trợ từ Nhà nước

(Xây dựng) – Ngày 29/9, tại Hà Nội, Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam, Tổ chức nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Na Uy (SINTEF) phối hợp với Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) tổ chức hội thảo “Đồng xử lý các nhiên liệu thay thế và nguyên liệu thô trong ngành Xi măng tại Việt Nam”.

Quang cảnh hội thảo.

Lượng sử dụng nhiên liệu thay thế còn thấp

Phát biểu tại hội thảo, TS Hoàng Hữu Tân – Phó vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) khẳng định: Hiện nay, nước ta có 86 dây chuyền sản xuất xi măng, với tổng công suất thiết kế 106,34 triệu tấn/năm. Sản xuất xi măng tiêu tốn nhiều nhiên liệu, trung bình 110 -150kg than/1 tấn clinker, tuỳ loại than, quy mô và dây chuyền công nghệ. Hiện một số nhà máy xi măng đã sử dụng nhiên liệu thay thế như: Insee, VICEM Bút Sơn, Lam Thạch… Tính trong phạm vi toàn ngành, lượng sử dụng nhiên liệu thay thế còn thấp, chủng loại chất thải được sử dụng làm nhiên liệu thay thế còn ít.

Mặc dù, đồng xử lý đang được áp dụng rất phổ biến ở châu Âu và Na Uy, nhưng giải pháp này chưa áp dụng rộng rãi tại Việt Nam, chỉ một số ít các nhà máy xi măng Việt Nam thực hiện đồng xử lý chất thải.

Theo TS nhà khoa học Kåre Helge Karstensen của SINTEF, người đứng đầu Dự án OPTOCE (biến rác thải nhựa trên đại dương thành cơ hội trong nền kinh tế tuần hoàn, do Chính phủ Na Uy tài trợ và được thực hiện tại 5 quốc gia: Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam), ngành Xi măng đang sử dụng khối lượng lớn than và các nguyên liệu thô khác. Tuy nhiên, chúng ta có thể thay thế một phần hoặc toàn bộ lượng nhiên liệu này bằng chất thải nhựa không thể tái chế. Việc đồng xử lý chất thải nhựa không thể tái chế làm nhiên liệu thay thế trong sản xuất xi măng không làm tăng phát thải dioxin, tuân thủ giá trị giới hạn quốc tế nghiêm ngặt. Thành công tại nhà máy INSEE Việt Nam gửi đi thông điệp hy vọng về tương lai của ngành Xi măng Việt Nam.

Phân tích về lợi ích của phương pháp đồng xử lý trong lò nung xi măng, ông Kåre Helge Karstensen nhấn mạnh: Có thể cải thiện việc quản lý chất thải nhựa không thể tái chế ở Việt Nam, làm giảm tiêu thụ than trong ngành Xi măng, giảm nhu cầu xây dựng lò đốt phát điện đắt tiền (biến chất thải thành năng lượng). Quan trọng hơn, ngành công nghiệp Xi măng nói chung có thể đóng một vai trò quan trọng trong giảm lượng phát thải khí nhà kính, ngăn chặn chất thải nhựa đổ vào đại dương.

VICEM Bút Sơn triển khai đồng xử lý rác thải.

Khó khăn về cơ chế chính sách, nguồn vốn

Là xu thế chung, mang lại lợi ích về kinh tế – xã hội, môi trường nhưng việc đồng xử lý chất thải làm nhiên liệu thay thế trong xi măng ở Việt Nam còn nhiều khó khăn, vướng mắc cả về công nghệ, cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện.

Chia sẻ về khó khăn, ông Bruno Fux – Giám đốc Ecocycle & Sustainability của Công ty INSEE Ecocycle cho biết: Hiện doanh nghiệp gặp khó về nguồn vốn đầu tư cho đồng xử lý; ở Việt Nam, chưa có đơn vị chuyên thu gom, xử lý sơ bộ chất thải và cung cấp đến nhà máy xi măng; một số bất cập về thủ tục pháp lý việc xác nhận các nhà máy xi măng áp dụng đồng xử lý là cơ sở xử lý chất thải; hoặc thiếu chính sách khuyến khích, ưu đãi với các doanh nghiệp xi măng áp dụng phương pháp này, cũng như doanh nghiệp thu gom, sơ chế chất thải trong chuỗi cung ứng liên quan.

TS Nguyễn Quang Cung – Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam nhấn mạnh: Việc này đặt ra ở bình diện quốc gia nhưng thực hiện gặp khó khăn. Thứ nhất, lượng rác thải, bùn thải bị phân tán khắp nơi, không có doanh nghiệp nào đứng ra thu gom, xử lý và chuyển cho các nhà máy xi măng. Rác thải nhiều nhưng nếu hơn 80 dây chuyền xi măng đồng loạt đồng xử lý thì nguồn rác thải không cấp đủ, các nhà sản xuất xi măng đầu tư công nghệ, máy móc đồng xử lý nhưng cần rác thì không có, sản xuất sẽ gặp khó khăn. Vấn đề này cần được giải quyết ở các địa phương.

Khó khăn thứ hai, theo TS Cung, xử lý rác thải tuân theo quy định pháp luật, doanh nghiệp đăng ký và được chính quyền địa phương chấp nhận, nhưng khó khăn về thủ tục, công nghệ và nguồn rác. Nhiều rác nhiệt trị thấp cần xử lý, cần hỗ trợ nhiều mặt của Nhà nước. Hiệp hội sẽ làm việc từng địa phương, nơi có nhà máy xi măng đóng trên địa bàn, để doanh nghiệp có nguồn rác thải, được tham gia, áp dụng các chính sách ưu đãi của Nhà nước.

Toàn bộ quá trình sản xuất, đồng xử lý chất thải/chất thải nguy hại được điều khiển từ CCR của VICEM Bút Sơn.

Đề xuất và kiến nghị

PGS.TS Lương Đức Long – Phó Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam kiến nghị: Nhà nước cần tháo gỡ khó khăn, đúng quy định pháp luật nhưng nhanh chóng, dễ làm. Nhà nước nên có cơ chế chính sách hỗ trợ.

Đại diện Tổng công ty Xi măng Việt Nam (VICEM) đề xuất: Chính phủ, Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định hiện hành đối với việc đồng xử lý chất thải trong sản xuất xi măng như: Tại khoản 15, điều 3 của Nghị định 40/2019-NĐ-CP quy định: Địa điểm của cơ sở xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch tỉnh. VICEM kiến nghị bổ sung các đơn vị sản xuất xi măng nói chung, VICEM nói riêng thuộc quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch tỉnh  để được tham gia đồng xử lý chất thải.

Đồng thời, sửa đổi quy chuẩn QCVN 41;2011/BTNMT cho phép các đơn vị sản xuất xi măng được xử lý chất thải công nghiệp thông thường và đồng xử lý chất thải nguy hại. Nhà nước sẽ kiểm soát mức độ phát thải của nhà máy theo quy định.

Tại Nghị định số 09/2021/NĐ-CP về quản lý vật liệu xây dựng; Chỉ thị số 98/CT-TTg về đẩy mạnh xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao nhân tạo của các nhà máy nhiệt điện, hoá chất, phân bón, làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và trong công trình xây dựng không có quy định hỗ trợ chi phí xử lý chất thải trong sản xuất xi măng. VICEM đề xuất bổ sung cơ chế, chính sách  rõ ràng, cụ thể cho chi phí xử lý từng loại chất thải, tro, xỉ, thạch cao nhân tạo… để thu hút, thúc đẩy, tạo điều kiện cho doanh nghiêpk tiếp cận nguồn phát thải. Từng bước thí điểm xây dựng thị trường chất thải, dán nhãn nhận diện xi măng xanh.

Phát biểu tại Hội thảo, Phó Đại sứ Na Uy Mette Møglestue cho biết:  Na Uy và Việt Nam, cũng như các thành viên tham gia Thỏa thuận Paris, đều cam kết mạnh mẽ trong việc chống biến đổi khí hậu và thực hiện các đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Để đạt mục tiêu này cần sự tham gia của nhiều lĩnh vực. Thông qua Dự án OPTOCE do Chính phủ Na Uy tài trợ và đang được thực hiện tại 5 quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam, chúng tôi hy vọng Na Uy có thể giúp ngành Xi măng Việt Nam nâng cao năng lực xử lý chất thải nhựa không thể tái chế và góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 của Việt Nam.

Ông Bruno Fux – Giám đốc Ecocycle & Sustainability của công ty INSEE Ecocycle cho biết: INSEE Ecocycle tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực đồng xử lý 15 năm qua. Chúng tôi không ngừng đầu tư trang thiết bị mới nhằm mở rộng khả năng và công suất xử lý chất thải của nhà máy. Đồng xử lý ở Việt Nam đang ở giai đoạn sơ khai. Chúng tôi hy vọng nhiều công ty xi măng Việt Nam sẽ được truyền cảm hứng từ Hội thảo này và trở thành những người bạn cùng chí hướng với chúng tôi, giảm thiểu việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch như than đá và góp phần xây dựng một Việt Nam xanh và sạch hơn.

Ngành Xi măng Việt Nam đang đứng trước thách thức và cơ hội. Con đường đầy áp lực nhưng buộc doanh nghiệp phải đi là chuyển đổi sản xuất xanh, giảm thiểu phát thải, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, giảm chi phí biến đổi, giảm chi phí sản xuất trong bối cảnh giá nguyên nhiên liệu tăng cao, thị trường tiêu thụ xi măng nội địa cạnh tranh khốc liệt, gay gắt.


Nguồn baoxaydung.com.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.